<?xml version="1.0" encoding="utf-8" ?>
<rss version="2.00">
<channel>
<title>Cây, củ, rau trị bệnh - TRUST.vn</title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/rss/cay,-cu,-rau-tri-benh.feed</link>
<description>Cây, củ, rau trị bệnh - Tin tức</description>
<copyright>Copyright Cây Cảnh Việt Nam - Nghệ thuật Bonsai Việt Nam & Quốc Tế.</copyright>
<managingEditor>ctycaycanhvietnam@yahoo.com.vn</managingEditor>
<lastBuildDate>Sun, 19 May 2013 17:47:17 GMT</lastBuildDate>
<generator>TRUST.vn RSS Generate</generator>
<item>
<title><![CDATA[ Nghệ đen - thuốc chữa các bệnh đường tiêu hóa]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/nghe-den---thuoc-chua-cac-benh-duong-tieu-hoa-1569.html</link>
<description><![CDATA[ <p>&nbsp;<strong>Nghệ đen (nga truật) l&agrave; vị thuốc rất phổ biến ở c&aacute;c v&ugrave;ng n&ocirc;ng th&ocirc;n, hầu như tất cả c&aacute;c tiệm thuốc bắc đều c&oacute; b&aacute;n, gi&aacute; cả dễ chịu. C&aacute;c b&agrave; c&aacute;c chị rất ưa chuộng n&oacute;, vị thuốc c&oacute; nhiều c&ocirc;ng dụng m&agrave; gi&aacute; cả lại hợp l&yacute; với t&uacute;i tiền n&ocirc;ng d&acirc;n.</strong></p> ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Mon, 13 Jun 2011 19:51:00 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Cỏ mực - thuốc thanh nhiệt và cầm máu]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/co-muc---thuoc-thanh-nhiet-va-cam-mau-1486.html</link>
<description><![CDATA[ <p>Để chữa chứng chảy m&aacute;u  mũi đ&ecirc;m ng&agrave;y kh&ocirc;ng dứt, y thư cổ <em>Nam dược thần hiệu</em> khuy&ecirc;n lấy  cỏ mực gi&atilde; n&aacute;t, đắp v&agrave;o giữa mỏ &aacute;c v&agrave; tr&ecirc;n tr&aacute;n.</p> ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Fri, 05 Mar 2010 10:30:00 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Chuyện lạ thực vật: Củ hà thủ ô mang hình người]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/chuyen-la-thuc-vat:-cu-ha-thu-o-mang-hinh-nguoi-1478.html</link>
<description><![CDATA[ <p>&nbsp;&Ocirc;ng Zheng Dexun, 63 tuổi, người n&ocirc;ng d&acirc;n ở Datianba, miền nam Trung Quốc vừa ph&aacute;t hiện ra một củ h&agrave; thủ &ocirc; c&oacute; h&igrave;nh dạng v&ocirc; c&ugrave;ng đặc biệt.</p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:6.0pt;margin-right:0in;margin-bottom:6.0pt;
margin-left:0in;text-align:justify;text-indent:.5in;tab-stops:0in"><b><o:p></o:p></b></p> ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Thu, 07 Jan 2010 18:49:00 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Hoa râm bụt - vị thuốc thanh nhiệt]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/hoa-ram-but---vi-thuoc-thanh-nhiet-1363.html</link>
<description><![CDATA[ Hoa râm bụt (Hibiscus rosa-sinensis L.) thuộc họ bông (Malvaceae), là một cây cảnh và cây hàng rào phổ biến ở nước ta và nhiều nước nhiệt đới khác.

Có nhiều loài: Râm bụt thường có dáng hoa cong, cánh hoa có răng cưa; râm bụt kép với hoa thẳng, nhiều cánh hoa; râm bụt xẻ hoa buông thõng, cánh hoa xẻ thùy và răng không đều; râm bụt hoa nhỏ, hoa mọc rủ, cánh hoa nguyên không bao giờ nở xòe. Trong đó, chỉ có râm bụt thường được dùng phổ biến làm thuốc với tên khác là bông bụt, hồng bụt (miền Trung), bụp (miền Nam), co ngần (Thái), bióc ngần (Tày), phẩy quấy phiằng (Dao), phù tang, xuyên cân bì.

Trong y học cổ truyền, hoa râm bụt có tên thuốc là mộc cận, vị ngọt, trơn nhầy, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, làm săn, lợi tiểu, tiêu sưng, giải độc. Nhiều bộ phận của cây được dùng trong những trường hợp sau:

Hoa: Thu hái khi mới nở, dùng tươi hay phơi khô. Hoa phơi khô, thái nhỏ, hãm uống thay trà chữa khó ngủ, hồi hộp, đi tiểu vàng. Hoa râm bụt 30g phối hợp với gỗ vang 30g, gừng 3 lát, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày chữa nhức đầu, chóng mặt ở phụ nữ mới đẻ; nếu phối hợp với hạt mã đề lượng bằng nhau sắc uống lúc đói lại chữa tả lỵ ở trẻ nhỏ. Để chữa mộng tinh, đái buốt, lấy hoa râm bụt, lá bạch đồng nữ, thài lài tía, mỗi thứ 30g, giã nhỏ, thêm nước đun sôi để nguội, gạn uống ngày hai lần; hoặc hoa râm bụt 30g, gương sen 3 cái, cắt nhỏ, sắc uống.

Dùng ngoài, hoa râm bụt với lá trầu không, lá thồm lồm, mỗi thứ 50g, để tươi, giã nát đắp chữa mụn nhọt, nhất là nhọt đang nung mủ, đau nhức.

Lá: Chữa quai bị: Lá râm bụt 50g, hành củ 50g, giã nhỏ, thêm nước, gạn uống và bã đắp. Chữa chân đau nhức, đôi khi co cứng không đi lại được: Lá râm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía, mỗi thứ 30g, thái nhỏ, phơi khô, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hàng ngày. Chữa tràng nhạc: Lá râm bụt 10g, lá hoặc quả cây ngoi 10g, vỏ rễ cây gạo 20g; tất cả dùng tươi, giã nhỏ với ít muối, đổ ngập sâm sấp nước vo gạo đặc, đun sôi nhỏ lửa cho đến khi sền sệt. Để nguội, đắp và băng. Ngày làm 1 lần.

Rễ: Tách lấy vỏ rễ, phơi khô, lấy 30g thái nhỏ, sắc uống chữa kinh nguyệt không đều. Có thể phối hợp với lá huyết dụ với liều lượng bằng nhau trong trường hợp kinh ra nhiều, rong huyết.

Vỏ thân: Cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, lấy 50g, thái nhỏ, sắc uống chữa khí hư. Dùng 5 ngày. Vỏ thân râm bụt 50g, phối hợp với bồ kết 10 quả, bỏ hạt, gừng tươi 20g, thái nhỏ, sắc rồi cô đặc sền sệt. Để nguội. Bôi ngày 2 lần để chữa chàm mặt. Để chữa kiết lỵ, lấy vỏ thân râm bụt 40g, búp hoặc lá táo 40g, gừng tươi 5 lát, thái nhỏ, sao vàng (trừ gừng), hạ thổ, rồi sắc uống trong ngày.

Hồng Hạnh (Theo DS. Đức Huy - SK&ĐS ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Wed, 16 Jul 2008 07:54:06 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Actiso]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/actiso-1261.html</link>
<description><![CDATA[ Tên khoa học: Cynara Scolymus L. 

Thuộc họ Cúc (Compositae).

Phần dùng làm thuốc: Thân, lá bắc, đế hoa và rễ.

Thành phần hóa học: Trong Ác ti sô chứa 1 chất đắng  có phản ứng Acid gọi là  Cynarin (Acid 1 - 4 Dicafein Quinic). Còn có Inulin, Tanin, các muối kim loại  K (tỉ lệ rất cao), Ca, Mg, Natri.

Lá Ác ti sô chứa: 

[b]1.  Acid hữu cơ bao gồm: [/b]

-     Acid Phenol: Cynarin (acid 1 - 3 Dicafeyl Quinic) và các sản phẩm của sự thủy phân (Acid Cafeic, acid Clorogenic, acid Neoclorogenic).

-     Acid Alcol.

-     Acid Succinic.

2.  Hợp chất Flavonoid (dẫn chất của Luteolin), bao gồm: 

Cynarozid (Luteolin - 7 - D Glucpyranozid), Scolymozid 

(Luteolin - 7 - Rutinozid - 3’ - Glucozid).

3. Thành phần khác: Cynaopicrin là chất có vị đắng , thuộc nhóm Guaianolid.

Dược điển  Rumani VIII qui định dược liệu phải chứa trên 1% Polyphenol toàn phần và 0,2% hợp chất Flavonoid.

Theo R.Paris, hoạt chất (Polyphenol) tập trung ở lá, có nhiều nhất ở phiến lá (7,2%) rồi đến ho (3,48%), đến cụm hoa, rễ, cuống lá.

Lá chứa nhiều hoạt chất nhất, 1,23% Polyphenol, cho,4% hợp chầtlavonoid, sau đó đến thân (0,75%), rễ (0,54%).

Lá non chứa nhiều hoạt chất (0,84%) hơn lá mọc thành hình  hoa thị ở mặt đất (0,38). Nếu sấy ở nhiệt độ cao thì lá mau khô nhưng lại mau mất hoạt chất. Ở nhiệt độ thấp, việc làm khô sẽ lâu hơn. Lá cần được ổn định trước rồi mới chuyển thành dạng bào chế. Ngọn có hoa chứa Inulin, Protein (3,6%), dầu béo (0,1%), Carbon Hydrat (16%), chất vô cơ (1,8%0, Ca (0,12%), P (0,10%), Fe (2,3mg/100g), Caroten (60 Unit/100g tính ra Vitamin A). 

Thân và lá còn chứa muối hữu cơ của các kim loại K, Ca, Mg, Na. Hàm lượng Kali rất cao.

[b]Tác dụng dược lý:[/b]

+  Dùng dung dịch Artichaud tiêm tĩnh mạch , sau 2-3 giờ, lượng mật bài tiết tăng gấp 4 lần (M.Charbol, Charonnat Maxim và Watz, 1929) .

+  Uống và tiêm Artichaud đều có tác dụng tăng lượng nước  tiểu, lượng Urê trong nước  tiểu cũng tăng lên , hằng số Ambard hạ xuống, lượng Cholesterin và Urê trong máu cũng hạ xuống . Tuy nhiên, lúc mới uống có khi thấy lượng Urê trong máu tăng lên do Artichaud làm tăng sự phát sinh Urê trong máu. (Tixier, De Sèze  M.Erk và Picard. 1934 - 1935).

+ Ác ti sô không gây độc.

Liều dùng: Thuốc sắc 5-10%, cao lỏng 2-10g.

Công dụng: Thông mật, lợi tiểu, giảm Urê máu, hạ sốt, nhuận trường .

[b]Chủ trị:[/b]

-     Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của người bệnh đái tháo nhạt vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần Carbon Hydrat gồm phần lớn là Inlin.

-     Lá Ác ti sô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.

-     Lá tươi hoặc khô sắc  hoặc nấu thành cao chữa bệnh về Gan (gan viêm mạn, da vàng), thận viêm cấp và mạn, sưng khớp xương. Thuốc có tác dụng nhuận trường và lọc máu nhẹ đối với trẻ em.

-     Thân và rễ Ác ti sô thái mỏng, phơi khô, công dụng giống lá.

-     Đơn thuốc kinh nghiệm: 

* Viên Bao Cynaraphytol: mỗi viên chứa 0,2g hoạt chất toàn phần lá tươi Ác ti sô (tương đương 20mg Cynarin).

Người lớn dùng 2-4 viên trước bữa ăn. Trẻ nhỏ: 1/4 - 1/2 liều người lớn. Ngày uống 2 lần.

* Trà Ác ti sô túi lọc (Artichoke Beverage): Thân Ác ti sô 40%, Rễ 40%, Hoa 20% + hương liệu thiên nhiên vừa đủ. Mỗi túi chứa 2g trà. Số lượng trà uống trong ngày không hạn chế.    

Bào chế: Sấy hoặc  phơi khô.

Bảo quản: Để nơi khô ráo. ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Mon, 09 Jul 2007 23:48:37 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Cây rau khúc]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/cay-rau-khuc-748.html</link>
<description><![CDATA[ Rau khúc còn có tên gọi là rau khúc vàng, thử khúc thảo... Đây là cây cỏ sống hằng năm, cao 40-50 cm. Thân đứng, có lông như bông. Lá nguyên, mọc so le, thuôn hình dải, tù và có mũi cứng ở đỉnh, thon hẹp dài lại ở gốc, hơi men theo cuống, dài 4-7 cm, rộng 5-15 mm, có lông mềm. Đầu hoa màu vang ánh, tập hợp thành ngũ, với nhiều lá bắc có lông như bông ở mặt lưng. Quả bế thuôn hình trứng, có mào lông gồm những tơ sợi tóc.

Rau khúc nhân bổ ở vùng Viễn Đông, từ Ấn Độ tới Trung Quốc, Nhật bản sang Philippin. Ở nước ta rau khúc rất phổ biến ở những nơi đất trống các ruộng bỏ hoang, nhiều nhất là các tỉnh phía Bắc. Còn có một lòai khác là rau khúc tẻ hay rau khúc Ấn Độ

[i]Một số bài thuốc Nam có rau khúc thường dùng:[/i]

[b]- Chữa cảm sốt[/b]: Rau khúc 30 g, gừng tươi 5 lát, hành 2 củ. Sắc uống ngày một thang.

[b]- Chữa ho, viêm họng: [/b]Rau khúc 30 g, củ rẻ quạt 5 g, diếp cá 50 g. Sắc uống ngày một thang.

[b]- Chữa hen suyễn:[/b] Rau khúc 30 g, lá bồng bồng 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.

[b]- Chữa tăng huyết áp: [/b]Rau khúc 30 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.

[b]- Chữa chấn thương đụng dập:[/b] Rau khúc lượng vừa đủ, giã nát, băng đắp nơi sưng đau.

[b]- Chữa rắn cắn:[/b] Lá rau khúc tươi giã nát, đắp rịt vào chỗ rắn cắn.  ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Thu, 29 Jul 2004 22:45:48 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Cây nghệ]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/cay-nghe-723.html</link>
<description><![CDATA[ [b]Phụ nữ có thai bị ra máu, đau bụng (dọa sẩy) có thể lấy nghệ vàng, đương quy, thục địa, ngải cứu, lộc giác giao (sừng hươu) mỗi vị 1 lạng, sao khô vàng, tán nhỏ, mỗi lần uống 4 đồng cân (khoảng 40 g). Dùng gừng tươi 3 lát, táo 3 quả, sắc với nước, uống trước bữa ăn khi thuốc còn ấm.[/b]

Củ nghệ vàng còn có các tên gọi như khương hoàng, vị cay đắng, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau. Uất kim (củ con của cây nghệ) vị cay ngọt, tính mát, làm mát máu, an thần, tan máu ứ, giảm đau. 

Sách Đông y bảo giám cho rằng khương hoàng có tác dụng phá huyết, hành khí, thông kinh, chỉ thống (giảm đau), chủ trị bụng chướng đầy, cánh tay đau, bế kinh, sau đẻ đau bụng do ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung thũng... Nhật hoa tử bản thảo cho khương hoàng có tác dụng trị huyết cục, nhọt, sưng, thông kinh nguyệt, vấp ngã máu ứ, tiêu sưng độc, tiêu cơm... 

Một số phương thuốc dùng nghệ trong Nam dược thần hiệu : 

- Phòng và chữa các bệnh sau đẻ: Dùng 1 củ nghệ nướng, nhai ăn, uống với rượu hay đồng tiện (nước tiểu trẻ em khỏe mạnh). 

- Chữa lên cơn hen, đờm kéo lên tắc nghẹt cổ, khó thở: Dùng nghệ 1 lạng, giã nát, hòa với đồng tiện, vắt lấy nước cốt uống. 

- Chữa trẻ em đái ra máu hay bệnh lậu đái rắt: Dùng nghệ và hành sắc uống. 

- Trị chứng điên cuồng, tức bực lo sợ: Nghệ khô 250 g, phèn chua 100 g, tán nhỏ, viên với hồ bằng hạt đậu, uống mỗi lần 50 viên với nước chín (có thể uống mỗi lần 4-8 g), ngày uống 2 lần. 

- Chữa đau trong lỗ tai: Mài nghệ rỏ vào. 

- Chữa trị lở, lòi dom: Mài nghệ bôi vào. 

[right][b]BS Quang Minh, Sức Khoẻ & Đời Sống[/b][/right] ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Tue, 20 Jul 2004 05:22:33 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Củ riềng làm thuốc]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/cu-rieng-lam-thuoc-654.html</link>
<description><![CDATA[ Để chữa đầy bụng, nôn mửa, lấy riềng củ, gừng khô, củ gấu phơi khô lượng bằng nhau đem tán nhỏ, rây lấy bột mịn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 4-6 g. 

Củ riềng (còn có tên là cao lương khương) và quả hột riềng đều vị cay, tính ấm, làm ấm bụng, chống khí lạnh, thường được dùng để chữa đau bụng, nôn mửa, nấc. Liều dùng 3-10 g đối với củ, hoặc 2-6 g đối với quả.

[u][b]Một số bài thuốc Nam được dùng trong dân gian:[/b][/u]
- Chữa đau bụng lạnh, nôn mửa, tiêu chảy: Riềng, củ gấu, gừng khô liều lượng bằng nhau, tán nhỏ, uống mỗi lần 6 g, ngày uống 3 lần.

- Chữa sốt rét cơn, ăn không tiêu, buồn nôn hoặc đau bụng thổ tả: Hạt riềng tán nhỏ, uống 6-10 g.

- Chữa hắc lào: Củ riềng già 100 g, giã nhỏ, ngâm với 200 ml rượu hoặc cồn 70 độ. Chiết ra dùng dần, khi dùng, bôi dung dịch cồn nói trên vào chỗ tổn thương, ngày bôi vài lần.

- Chữa ho, viêm họng, tiêu hóa kém: Riềng củ thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể ngậm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần.

[right][b]BS Quang Minh, Sức Khoẻ & Đời Sống[/b][/right] ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Thu, 17 Jun 2004 20:51:36 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Chữa bệnh của nước cà rốt]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/chua-benh-cua-nuoc-ca-rot-652.html</link>
<description><![CDATA[ Cà rốt 250 g cạo vỏ, thái miếng; dâu tây 250 g bỏ cuống, dùng máy ép hai thứ lấy nước cốt, hòa với 5 ml nước ép chanh và 2-3 miếng đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Dùng cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, tiểu đường, táo bón mạn tính, phụ nữ da thô và khô...

Cà rốt là một trong những thực phẩm rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin. Sách Bản thảo cương mục viết: "Cà rốt có tác dụng hạ khí bổ trung, làm lợi cho cơ hoành và tràng vị, làm yên ngũ tạng và giúp ăn khỏe". Sách Y lâm cải yếu cho rằng cà rốt có khả năng "nhu nhuận tạng thận, làm khỏe dương khí, ấm hạ bộ, trừ hàn thấp". Sách Nhật dụng bản thảo xem cà rốt là thứ thuốc "có thể chữa chứng quáng gà, suy dinh dưỡng, trẻ em còi xương, không muốn ăn, khô tròng mắt". 

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, cà rốt rất giàu dinh dưỡng, ngoài protid, lipid, glucid và chất xơ còn có nhiều nguyên tố vi lượng và các vitamin, nhất là carotene. Về tác dụng dược lý, cà rốt có khả năng điều tiết cơ năng sinh lý của cơ thể, tăng cường thể chất, nâng cao năng lực miễn dịch, kháng khuẩn, giải độc, làm hạ đường máu, dự phòng tích cực các bệnh lý do thiếu vitamin A, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh cà rốt còn có tác dụng chống lão hóa và dự phòng tích cực bệnh lý ung thư. 

Từ cà rốt, có thể tạo ra các loại đồ uống thơm ngon vừa có tác dụng giải khát bổ dưỡng vừa giúp phòng chống bệnh tật. Sau đây là một số công thức:

- Cà rốt 150 g, mật ong 50 g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái thành miếng nhỏ rồi dùng máy ép lấy nước (nếu không có máy ép thì giã thật nát rồi dùng vải bọc lại, vắt lấy nước cốt), cho mật ong và chế thêm nước vừa đủ, quấy đều rồi uống. Dịch thể thu được có màu quất chín rất hấp dẫn, mùi vị thơm ngon tự nhiên. Nước có công dụng bổ dưỡng, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, giúp phòng chống bệnh cao huyết áp.

- Cà rốt 150 g, táo tây (loại táo quả to nhập từ Trung Quốc hoặc châu Âu) 150 g, nước ép chanh 15 ml, mật ong 10 ml. Cà rốt và táo rửa sạch, thái miếng rồi dùng máy ép lấy nước (với táo nên ép ngay vì để lâu sẽ bị biến màu, nếu cần thì ngâm trong dung dịch nước muối 2-3%), cho mật ong và nước chanh vào quấy thật kỹ và uống hàng ngày. Đây là loại thức uống giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao sức đề kháng và giúp phục hồi sức khỏe rất tốt.

- Cà rốt 500 g, lê tươi 500 g, nước chín để nguội 1.000 ml, mật ong 20 ml. Lê rửa sạch để ráo nước, ngâm với nước muối 3% trong 15 phút, sau đó thái miếng, dùng máy ép lấy nước; cà rốt rửa sạch, cạo vỏ thái miếng, dùng máy ép lấy nước. Hòa hai thứ nước ép với nhau, chế thêm mật ong, quấy đều rồi chia uống vài lần trong ngày. Đây cũng là một loại đồ uống rất giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng cường thân kiện lực, bồi bổ sức khỏe, làm đẹp da và râu tóc, phòng chống tích cực bệnh lý ung thư, đặc biệt thích hợp với những người ở tuổi trung và lão niên.

- Cà rốt 100 g, mía 500 g, chanh quả 80 g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái miếng, đem hầm thật nhừ, đánh nhuyễn rồi dùng vải lọc lấy nước; mía róc vỏ, chẻ nhỏ, dùng máy ép lấy nước. Hòa nước cà rốt và nước mía với nhau, vắt chanh, quấy đều rồi chia uống vài lần trong ngày. Dịch thể thu được có màu hồng vàng, mùi thơm, vị ngọt, dùng làm nước giải khát và bổ dưỡng khá tốt. Theo các nhà dinh dưỡng học Trung Quốc, loại đồ uống này có tác dụng phòng chống ung thư.

- Cà rốt 250 g, quất 100 g, chuối tiêu chín 150 g, đường phèn vài miếng. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái miếng, dùng máy ép lấy nước; quất vắt lấy nước cốt. Chuối tiêu bóc vỏ, đánh nhuyễn rồi đổ nước cà rốt và nước quất vào, quấy thật đều, chế thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Loại nước này có mùi thơm khá đặc biệt, dễ uống và giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt thích hợp cho những người bị cao huyết áp và chán ăn.

- Cà rốt 1.000 g, trám tươi 250 g, đường trắng vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, thái chỉ; trám bỏ hạt, thái lát mỏng. Hai thứ đem ép lấy nước rồi đun sôi lên, chế thêm đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Đây là loại nước giải khát và bổ dưỡng rất hữu ích, đặc biệt thích hợp cho những người bị viêm họng, viêm phế quản, viêm amiđan, viêm gan...

[right][b]ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khoẻ & Đời Sống[/b][/right] ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Thu, 17 Jun 2004 19:50:02 GMT</pubDate>
</item>
<item>
<title><![CDATA[ Đan sâm trong điều trị bệnh tim mạch]]></title>
<link>http://caycanhvietnam.com/news/detail/dan-sam-trong-dieu-tri-benh-tim-mach-647.html</link>
<description><![CDATA[ Đan sâm có tác dụng chữa trị sự rối loạn tuần hoàn tim và não. Loại thảo dược này còn hiệu nghiệm trong điều trị chứng hồi hộp, đau nhói và thắt ngực, mất ngủ, vàng da và có tác dụng an thai.

Công dụng của đan sâm:

- Giảm rối loạn tuần hoàn vi mạch, làm giãn các động mạch và tĩnh mạch nhỏ, mao mạch, tăng tuần hoàn vi mạch.

- Giảm mức độ nhồi máu cơ tim. Khi tiêm dẫn chất tanshinon II natri sulfonat, trong đó tanshinon II là một hoạt chất của đan sâm, vào động mạch vành sẽ làm giảm nhồi máu cơ tim cấp tính. Kích thước vùng thiếu máu mất đi hoặc giảm đáng kể.

- Ổn định màng hồng cầu, làm tăng sức kháng của hồng cầu nhờ dẫn chất tanshinon II natri sulfonat. Hồng cầu ủ với cao đan sâm có thể tăng khả năng kéo giãn và phục hồi hình dạng nhanh hơn so với hồng cầu không ủ với thuốc.

- Ức chế sự kết hợp tiểu cầu, chống huyết khối nhờ các hoạt chất miltiron và salvinon của đan sâm.

- Bảo vệ cơ tim, chống lại những rối loạn về chức năng và chuyển hóa gây ra bởi thiếu hụt oxy.

- Chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do có hại cho cơ thể.

Một số bài thuốc với đan sâm:

[b]1. Chữa đau tức ngực, đau nhói vùng tim:[/b]

- Đan sâm 32 g, xuyên khung, trầm hương, uất kim, mỗi vị 20 g. Hồng hoa 16 g, xích thược, hương phụ chế, hẹ, qua lâu, mỗi vị 12 g. Đương quy vĩ 10 g. Sắc uống ngày một thang.

- Đan sâm 32 g, xích thược, xuyên khung, hoàng kỳ, hồng hoa, uất kim, mỗi vị 20 g. Đảng sâm, toàn đương quy, trầm hương, mỗi vị 16g. Mạch môn, hương phụ, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

[b]2. Chữa suy tim:[/b]- Đan sâm 16 g, đảng sâm 20 g, bạch truật, ý dĩ, xuyên khung, ngưu tất, trạch tả, mã đề, mộc thông, mỗi vị 16 g. Sắc uống ngày một thang.

- Đan sâm, bạch truật, bạch thược, mỗi vị 16 g. Thục linh, đương quy, mã đề, mỗi vị 12 g. Cam thảo, can khương, nhục quế, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.

3. Chữa tim hồi hộp, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai: đan sâm, sa sâm, thiên môn, mạch môn, thục địa, long nhãn, đảng sâm, mỗi vị 12 g. Toan táo nhân, viễn chí, bá tử nhân, mỗi vị 8 g. Ngũ vị tử 6 g. Sắc uống ngày một thang.

[b]4. Chữa viêm tắc động mạch chi:[/b]

- Đan sâm, hoàng kỳ, mỗi vị 20 g. Đương quy vĩ 16 g, xích thược, quế chi, bạch chỉ, nghệ, nhũ hương, một dược, hồng hoa, đào nhân, tô mộc, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- Đan sâm, huyền sâm, kim ngân hoa, bồ công anh, mỗi vị 20 g, sinh địa, đương quy, hoàng kỳ, mỗi vị 16 g. Hồng hoa, diên hồ sách, mỗi vị 12 g. Nhũ hương, một dược, mỗi vị 8 g. Cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.

[b]5. Chữa thần kinh suy nhược, nhức đầu, mất ngủ:[/b]

- Đan sâm, bạch thược, đại táo, hạt muồng sao, mạch môn, ngưu tất, huyền sâm, mỗi vị 16 g. Dành dành, toan táo nhân, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.

- Đan sâm, liên tâm, táo nhân sao, quả trắc bá, mỗi vị 8 g, viễn chí 4 g. Sắc uống ngày một thang.

[b]6. Chữa viêm khớp cấp kèm theo tổn thương ở tim:[/b]

- Đan sâm, kim ngân hoa, mỗi vị 20 g, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 16 g. Đương quy, long nhãn, liên kiều, hoàng cầm, hoàng bá, mỗi vị 12 g. Táo nhân, phục linh, mỗi vị 8 g. Mộc hương, viễn chí, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.

- Khi có loạn nhịp: Đan sâm 16 g, sinh địa, kim ngân, mỗi vị 20 g. Đảng sâm 16 g, chích cam thảo, a giao, mạch môn, hạt vừng, đại táo, liên kiều, mỗi vị 12 g. Quế chi 6 g, gừng sống 4 g. Sắc uống ngày một thang.

[right][b]Giáo sư Đoàn Thị Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống[/b][/right] ]]></description>
<category domain="http://caycanhvietnam.com/news/cay,-cu,-rau-tri-benh-36.html" >Cây, củ, rau trị bệnh</category>
<pubDate>Thu, 17 Jun 2004 19:32:38 GMT</pubDate>
</item>
</channel>
</rss>
